<%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="65001"%> cacdongthien

Các Dòng Thiền Đang Chuyển
Chí Hải  

Thiền đã có mặt trước thời đức Phật. Trước đó Thiền Yoga bắt nguồn từ kinh điển Vệ Đà của đạo Bà La Môn đã lưu hành rộng rãi. Khi Thái Tử xuất gia thì cũng đã tu học thiền với 2 vi đạo sư Bà La Môn rồi. Nhưng sau khi học với Thầy, Phật nhận thấy 2 pháp tu này không đưa đến chỗ cứu cánh là giải thoát sinh tử nên Phật đã từ giả thầy mà đi tìm con đường hành đạo khác.  Các tôn giáo khác cũng có cách Thiền riêng thích hợp với đường hướng, tôn chỉ của tôn giáo mình. Bài này chỉ giới thiệu một vài dòng thiền đang lưu chuyển và được người Việt trong nước cũng như hải ngoại biết đến nhiều và thực hành như một nhu cầu sống.

1. Thiền Minh Sát.

Thiền Minh sát hay còn gọi là Thiền Vipassana. Minh sát là quan sát rất sâu rất rõ ràng những diễn tiến tâm lý, vật lý đang xảy ra trong tâm và thân cũng như ngoại cảnh chung quanh mình. Thiền Minh Sát dựa trên Kinh Tứ Niệm Xứ để thực hành. Xứ là lãnh vực, là phạm vị. Bốn xứ là bốn lãnh vực của con người gồm Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Quán sát 4 lãnh vực là Quán thân thể nơi thân thể, Quán cảm thọ nơi cảm thọ, Quán tâm thức nơi tâm thức, và Quán đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức (còn gọi là pháp).

Trong lảnh vực Thân, thiền giả theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra mà không cho nghĩ tưởng gì khác xen vào.  Tập trung hết tâm ý của mình theo dõi hơi thở ra vào, biết nó dài, nó ngắn nó thế nào thì biết thế đó. Khi đi thì phải quán chiếu đến từng chuyển động của bàn chân: giơ giơ, đạp đạp, chạm chạm…và ý thức những cử động giơ chân, đạp xuống, chạm đất…. Đó là niệm thân trong thân.

Trong lãnh vực Thọ cũng vậy, khi ngồi thiền mà có cảm giác đang đau nhức thì thiền giả theo dõi cái đau nhức, biết có cái đau nhức đang xảy ra nơi chân mình, nhìn rõ vào nó, biết nó có mặt ở đó. Nó lần lần giảm bớt, biết nó giảm bớt.  Đến lúc cảm giác hết đau nhức, biết là biết nó hết đau nhức. Nó đến rồi nó đi thì biết nó đến và nó đi.  Trong các lãnh vực tâm và pháp cũng thực hành tương tự như vậy. Lúc nào cũng làm như ông chủ nhà quán sát rõ ràng người khách đến người khách đi một cách độc lập, khách quan, một cách bình thản mà không phê phán gì thêm, không thêm tình cảm thích/không thích. Lúc nào cũng duy trì đưọc sự tỉnh giác và chánh niệm.

Dùng tâm ý mình để quan sát, theo dõi những gì xảy ra trong thân tâm mình là chính để nhiếp tâm, giữ gìn tâm ý mình không cho nó chạy loạn.  Đó là một cách thanh lọc tâm, điều tâm rất hữu hiệu.  Lúc nào cũng miên mật quán sát tất cả hiện tượng xảy ra trong và ngoài tâm như bản chất của chúng đang xảy ra thì không còn có cơ hội nào để cho những tình cãm lục dục thất tình có thể xen vô được, lôi kéo mình đi vào phiền não khổ đau.  Thiền Minh Sát là Thiền là một pháp tu đơn giản rất hợp lý và đem lại sự an lạc cho người thực hành thiền và cho những người chung quanh.  Phật đã giảng dạy phương pháp Thiền này trong suốt 45 năm chuyển pháp luân. 

2.  Thiền Làng Mai

Làng Mai ở Pháp cũng thực hành thiền Tứ Niệm Xứ. Thầy Nhất Hạnh cũng hướng dẫn theo dỏi hơi thở để đem thân tâm trở về một chỗ, thân tâm nhất như. Thông thường thân và tâm của ta như 2 đường rầy xe lửa chạy song song nhau mà không bao giờ hợp nhất. Thân hoạt động một đường, tâm lo nghĩ một nẽo. Thân đau mà tâm không biết cách để ý chăm sóc.  Tâm đau buồn mà thân không giúp được gì để làm giảm bớt cơn đau. Cùng nguyên tắc với Thiền Minh Sát, Thiền Làng Mai cũng  thở vào thở ra, cũng an trú trong chánh niệm gọi là hiện pháp lạc trú. “Quá khứ đã đi qua, tương lai chưa tới” ta không cần phải lo lắng, quan tâm đến nó. Ta chỉ cần sống an lạc thảnh thơi, trong giây phút hiện tại là đủ, là hạnh phúc rồi.  Khi chuyện nào sẽ tới thì nó sẽ tới.  Chuyện ngày mai khi nó tới thì ta giải quyết, trực diện nó để ứng xử với nó, chứ không lo nghĩ những chuyện chưa tới mà quên sống ngày hôm nay.  Sự sống rất quí và rất ngắn nên phải trân trọng nó và tận hưởng nó, không nên để nó trôi qua trong quên lãng.

Trong 4 lãnh vực của tứ niệm xứ, Làng Mai chú trọng vào pháp thở, dựa trên kinh An Ban Thủ Ý. An Ban là hơi thở, thủ ý là gìn giữ tâm ý.  Giữ gìn tâm ý qua đường hơi thở để có sự tỉnh giác. Thực hành pháp thở một cách sâu sắc và thành công thì 3 lãnh vực thọ tâm pháp cũng đồng có kết quả.
Điểm độc đáo của Làng Mai là làm mới các phương pháp giảng dạy và thực hành Thiền.  Làng Mai đã thành công trong việc làm cho người Tây Phương thể nghiệm được, nếm được hương vị của Thiền qua sự thực hành chứ không qua kinh nghiệm nói lại của người khác.  Sự thực dụng của Thiền rất thích hợp với tinh thần khoa học thực nghiệm, và tính tự lực tự cường của người Tây Phương.  Muốn giới thiệu Phật pháp mà dùng những hình thức tôn giáo rườm rà, lễ nghi hình tướng bề ngoài hay tín lý cứng ngắt thì không thể nào thành công ở xã hội Tây Phương.  Họ đã có những thứ đó cả ngàn năm trong tôn giáo của họ rồi,  tôn giáo Đông Phương không đủ sức để đi vào lòng họ bằng những phương thức đó.  Phật giáo Nhật Bản, Đại hàn, Trung Hoa có mặt ở Tây Phương đã lâu mà không bắt rễ được trong xã hội Tây Phương là cũng vì lý do thiếu thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện của xã hội này.  Làng Mai dùng ngôn ngữ hiện đại, lý giải và trình bày giáo pháp một cách trong sáng làm cho mọi người dễ hiểu dễ hành.  Hiện đại hóa Phật giáo,  không câu nệ vào khuôn thức cũ, dùng văn chương truyền đạt khúc chiết nhẹ nhàng dễ thâm nhập lòng người, nhất là giới trẻ,  Làng Mai đã đóng góp một phần không nhỏ trong tiến trình chuyển hóa thân tâm của người Tây Phương.  Làng Mai cũng giới thiệu thành công Tâm lý học Phật giáo cho người Tây Phương.  Không những giới thiệu Tâm lý học Phật giáo như một học thuyết mà là một phương thức ứng dụng thực nghiệm để giải quyết, tháo gở những bức xúc của đời sống hằng ngày của xã hội Tây phương.  Sự hội nhập của Thiền Làng Mai vào xã hội Tây Phương là một đóng góp tâm linh tuyệt vời của sự hoằng hoá chánh pháp của đức Phật.

3. Thiền Trúc Lâm

Gọi là Thiền Trúc Lâm cho dễ hiểu thân thiết vì Thầy Thanh Từ chủ trương phục hưng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tôn khai mở vào thế kỹ 13. Thiền Tông hầu như đã biến mất ở Việt Nam trong một thời gian dài.  Chỉ vào khoảng hậu bán thế kỷ 20, mới có những nổ lực phục hồi tinh thần Thiền ở Việt Nam cùng với sự thay da đổi dạng của Phật Giáo Việt Nam từ Bắc chí Nam vào những năm 30 của thế kỹ trước.  Thầy Nhất Hạnh là một trong những người tiên phong trong phong trào này vào những năm 50-60. Những sách vở, sáng tác của Thầy thổi một luồng gió mới cho sự thay đổi này và khởi dựng môt phong trào hiện đại hoá Phật Giáo và Phật Giáo Nhập Thế có nhiều tiếng vang thời bấy giờ. Cũng đồng một thời, Thầy Thanh Từ sau khi đã đóng góp phần mình cho các Phật họcViện cũng đơn độc đứng ra khai phá, thử nghiệm việc thực hành Thiền dựa trên kinh điển và luận thư của các vị Tổ Sư.  Thầy vừa tu vừa thực hành Thiền vừa hướng dẫn đại chúng thực hành Thiền qua tôn chỉ “Lấy vô niệm làm tông, lấy cửa Không làm cửa pháp” và dùng phương thức “Biết vọng không theo” để thực hành Thiền.

Mới gần đây, năm 2005, Hòa Thượng Thanh Từ sau 2 năm nhập thất chuyên tu lại khám phá một phương pháp Thiền mới, dễ tu dễ chứng và thay thế phương  pháp “biết vọng không theo”.  Đó là “Pháp Tu Thiền Biết Có Chân Tâm”. Pháp tu mới này nhắm trực tiếp vào Chân Tâm để dụng công . Ai cũng có Chân tâm sẳn trong tâm mình. Bây giờ chỉ cần nhận biết nó luôn luôn có mặt trong ta, duy trì sự có mặt của nó sống với nó, thể nhập với nó thì đến chỗ giác ngộ và giải thoát. Chân Tâm là cái nhận biết đầu tiên khi giác quan tiếp xúc với môt đối tượng.  Khi ta nhìn một cái hoa ta biết nó là cái hoa. Cái biết đầu tiên đó là Chân tâm. Nếu ta tiếp tục nghĩ tưởng thêm nữa, dùng ý thức phân tích suy diễn thêm nữa, nghĩ là hoa này đẹp, thơm quá rồi nảy sanh lòng ham muốn có nó, muốn mua nó đem về nhà thưởng thức tiếp thì hết còn an trú ở Chân tâm.  Những tư tưởng đi sau cái biết sơ khởi là vọng niệm, tạp niệm. Những vọng niệm hay những tư tưởng đó che khuyất Chân Tâm.  Những vọng niệm đó là gốc rễ của phiền não, khổ đau.

Trong cuộc sống hằng ngày, khi ta tiếp xúc với ngoại cảnh nếu ta biết dừng cái biết ngay tại chỗ sơ niệm thì ta làm chủ được đời mình. Các tình cảm tham, giận, oán, hờn, lo âu, sợ hải đều mất hết tác dụng của nó đối với ta.  Ta đã giải thoát khỏi sự khống chế của chúng.  Ta đã khôi phục lại chủ quyền của mình, và dành lại được sự tư do cuối cùng của mình.  Làm thể nào để duy trì cái niệm biết đầu ấy?  Bằng cách làm cho tư tưởng không khởi lên.  Bằng cách duy trì cái niệm biết ở ngay Chân tâm thì tư tưởng khác không có dịp khởi lên.  Cái niệm biết ở ngay Chân tâm đó được gọi là chánh niệm.  Cái chánh niệm đó là phương tiện là đơn niệm duy nhất để duy trì sự có mặt của Chân tâm.

4.  Thiền Tánh Không

Thiền Tánh Không là đứa em út của 3 dòng Thiền kể trên do Thầy Thông Triệt khởi xướng.  Thầy xuất gia và thực hành với Hoà Thượng Thanh Từ một thời gian.  Cái mốc 1975 đưa Thầy vào vòng lao lý chung số phận với nhiều người đương thời.  Trong hoàn cảnh khó khăn của thời gian này Thầy vẫn kiên trì đường tu và miên mật thực hành pháp Thiền do sư phụ truyền dạy.  Sau những khó khăn, thất bại, thử nghiệm, kiên trì thử nghiệm, kiểm chứng tới kiểm chứng lui, Thầy đã khám phá một pháp Thiền mới dễ tu dễ hành và mau có hiệu quả.  Khi trở lại đời sống dân sự, Thầy bắt đầu dạy pháp Thiền mới khám phá này và kiểm chứng được lợi ích thực sự của pháp Thiền.  Sau khi đến Mỹ, nhờ nguồn tài liệu phong phú trong các thư viện đại học , Thầy tiếp tục nghiên cứu tìm tòi, hoàn thiện pháp Thiền và bắt đầu hướng dẫn thực tập Thiền vào năm 1995 ở Oregon.

Thiền Tánh Không nhắm trực tiếp vào Tánh Giác để dụng công.  Ai cũng có cái Tánh Giác. Nhưng không có dịp để phát huy nó. Trực giác là một dạng thấp nhất của Tánh Giác.  Trực giác là cái biết ngay tức khắc mà không phải qua tiến trình suy nghĩ, suy luận.  Cái biết đầu tiên khi giác quan tiếp xúc với đối tượng là cái biết của Tánh Giác.  Bình thường ta dùng ý thức, trí năng để sinh hoạt hằng ngày. Suốt đời ta lo phát triển phần ý thức trí năng này.  Toàn bộ nền văn minh vật chất, tri thức khoa học kỹ thuật của loài người đều xây dựng trên khả năng ý thức, trí năng này.  Nền văn minh vật chất làm cho con người tiến hoá cao nhất trong bậc thang tiến hóa của các chủng loài khác nhưng nó cũng mang đến những tác hại khủng khiếp cho chính con người và cả quả điạ cầu đang cưu mang mình.  Suốt lịch sữ tiến hoá của loài người, loài người chỉ lo trau dồi phần trí thức mà bỏ quên hay xem nhẹ về sự phát huy phần Tánh Giác của mình.

Thiền Tánh Không đưa ra phương thức làm chủ sự suy nghĩ của ý thức, ý căn và trí năng để kích thích cho Tánh giác bậc ra. Khi Tánh Giác chủ động thì tâm được an định, trực giác sắc bén, trí huệ bừng sáng. Mấu chốt của phương pháp thực hành Thiền tánh Không là “Không Lời” hay “Vô niệm”. Thiền Tánh Không đưa ra rất nhiều phương thức để duy trì tình trạng “không lời”.  Biết mà không có sự can thiệp của ý thức, trí năng diễn đạt bằng ngôn ngữ là cái Biết bắt nguồn từ Tánh Giác.

Dù sinh sau đẻ muộn nhưng điểm kỳ đặc của Thiền Tánh Không là dùng kiến thức khoa học thời đại để đối chiếu với Thiền.  Dùng não bộ, hệ thống thần kinh, hệ thống tuyến nội tiết  để chứng minh và giải thích những gì đang xảy ra trong lúc hành thiền là một đóng góp tri thức đặc sắc của thiền Tánh Không trong lịch sữ thiền học.  Hơn nữa, lần đầu tiên Thiền Tánh Không chứng minh được sự hiện hữu của Tánh Nhận Thức thuộc cơ chế của Tánh Giác, đóng vai trò tối hậu trong tiến trình Thiền. Tánh Nhận Thức này đã được Đại học Tuebingen của nước Đức kiểm chứng và định vị trên võ não bằng máy đo hoạt động của não bộ MRI.  Đây là một khám phá quan trọng cho cả 2 phần lý thuyết và thực hành Thiền.  Chúng ta chờ sự công bố chính thức kết quả nghiên cứu này trong giới học thuật chuyên môn này.

Thầy Thông Triệt sẽ có buổi nói chuyện công cộng về đề tài “Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học” tại 6000 Lemon Hill Ave, Sacramento vào lúc 10:00-12:00 trưa ngày chủ nhật 1 tháng 3 năm 2009.  Kính mời quí vị quan tâm đến Thiền nhín chút ít thì giờ tham dự để nghe Thầy giảng giải chi tiết về pháp Thiền Tánh Không.