Đầu Năm Con Trâu Nói Chuyện Thiền
Chí Hải
Có một bài ca dao mà hồi nhỏ tôi rất thích và thường nghêu ngao hát là bài “Con trâu có một hàm răng”. Bài ca dao rất đơn giản, rất miệt vườn, miệt ruộng. Nhưng lâu quá không còn có dịp ê a, tôi quên bẵng chỉ còn nhớ lõm bõm câu được câu mất.. Hôm gần Tết , trong lúc rỗi rảnh tôi lên mạng Google Vĩnh Long, một tỉnh lỵ thuộc đồng bằng song Cửu Long. thì thấy một website có đăng bài ca dao này. Tôi mừng như gặp lại một cố nhân. Đúng là “tha hương ngộ cố nhân”. Một bài ca dao mà theo tôi nó không được phổ quát cho lắm vì từ lâu tôi đã cố tìm tòi mà không thấy trên các sách báo viết về ca dao. Có lẽ bài ca dao này chỉ có tính cách địa phương và lưu truyền trong vùng quê tôi ở Vĩnh Long hay nhiều lắm là vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Cũng một tình cờ, hôm mồng một Tết năm con Trâu, là ngày đi làm như thường lệ, bỗng nhiên có nghe tiếng gọi từ nơi sâu thẳm trong lòng, hôm nay là ngày đầu năm Tết của mình, đúng ra thì đã là ngày mồng hai bên nhà rồi, mà sao lại phải đi cày như vầy. Mà đúng là đi cày với con trâu đầu năm rồi chứ còn gì nữa. Rồi trong một cơn cao hứng bốc đồng, dẹp, dẹp hết, bỏ qua hết, bỏ sở làm một chuyến tiếu ngạo về Sacramento đến phố Stockton để thưởng thức chút hương vị ngày Tết. Tôi hết sức ngỡ ngàng khi đến phố chợ Little Saigon ở thủ phủ Sacramento. Ngày Tết gì mà vắng hoe, im lặng như vầy sao? Xe cộ lèo tèo, bãi đậu trống trơn, đậu xe dễ dàng quá, không mất công chạy vòng vòng, chờ chực mhư trước. Bỏ xe, đảo đi một vòng thì mới ngỡ là ngày Tết thực sự đã qua rồi. Bà con đã ăn Tết hôm Chủ nhật mất rồi, xác pháo đỏ còn đây, còn tồn đống trước chợ Thuận Phát đây nầy. Mấy tiệm
ăn rộn ràng quen thuôc cũng đóng cửa. À thì ra vậy, hôm nay là ngày thứ hai , là ngày đi làm, chứ đâu phải là ngày nghĩ ngày Tết của mình. Chuyến du hành ngày Tết Sacramento như vậy coi như thành công công cốc, chẳng được cái tích sự gì. Thôi thì cũng đảo một vòng mua vài thức ăn làm sẵn để ăn trưa đi làm cho vài ngày sắp tới. Ngang qua nhà báo Làng, may sao tiêm vẫn mở cửa, ghé vào xin một số báo, báo cũ cũng được để có cái gì đọc cho vui ngày Tết còn lại. Bà chủ báo đưa cho một số báo mới phát hành đúng cho tuần lễ cuối năm.
Về nhà mở báo vừa ăn trưa vừa đọc, thì giật mình. Uả, ủa, cũng là bài “con trâu có một hàm răng” xuất hiện một lần nữa dưới mắt mình. Ai viết vậy? Lật lại đầu bài thì thấy tên Việt Chung. Không biết Việt Chung là ai nhưng tôi thầm cảm ơn tác giả bài viết đã đem lại cho tôi một lần nữa “tha hương ngộ cố tri”. Chắc là ngưòi này cũng là dân miền
lục tỉnh chứ không khác. Thế là trong vòng hơn một tháng , tôi đã gặp lại 2 lần bài ca dao thân thương hồi trước. Bài ca dao của tôi chỗ còn nhớ lõm bõm có hơi khác một chút với bài trên mạng và bài trên báo Làng, chỉ khác vài chữ nhưng ý thì vẫn như nguyên.
Con trâu có một hàm răng
Ăn cỏ đất bằng uống nước bờ ao
Lúc sống mày ở với tao
Đến khi mày chết tao, cầm dao tao xẻ thịt mày
Thịt mày tao nấu linh đinh
Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mày tao tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa…
Ngày trước tôi ê a hát bài ca dao nhưng không bao giờ thắc mắc tại sao “con trâu có một hàm răng”. Chỉ nương theo cái vần điệu của câu thơ mà cảm nhận cái số phận hẩm hiu của con vật suốt đời hy sinh, tận tụy với chủ cho đến cuối đời. Chết rồi mà vẫn còn để lại những lợi ích thiết thực cho đời. Một bài ca dao buồn thấm thía nhưng đậm tính vị tha và nhẫn nại. Ngâm nga í y vài lần bài ca dao, tôi bỗng cảm thấy muốn chẻ sợi tóc làm hai mà đặt câu hỏi , “tại sao chỉ có một hàm răng?”. Thưởng thức thơ ca, mà đem đầu óc thực tiển ra mà xài thì còn gì là thơ văn của người ta? Nhưng thây kệ., đã lỡ hỏi rồi thì phải tìm câu giải đáp. À, thì ra con trâu đã quá già, đã gần mãn kiếp sống nên răng cỏ đã rụng gần hết chỉ còn có mỗi một hàm còn răng, còn hàm kia răng đã rụng hết. Điều đó cũng nói lên một đời dài luôn nhẫn nại phục vụ con người của con trâu.
Không những khi đã chết , trâu còn cống hiến thân thể mình cho nhu cầu sinh sống của người đời :
thịt thì làm thực phẩm, sừng thì làm dụng cụ hữu ích hằng ngày. Cả đến nhu cầu giải trí như đánh cờ trâu cũng cống hiến sừng mình để làm để góp phần tham dự. Đăc biệt nhất là trâu còn tham dự vào việc vang lên những tiếng trống trong chùa.. “Da mày bịt trống tụng kinh trong chùa”. Trống dùng trong chùa là trống Bát Nhã. Bát Nhã là Trí huệ. Trống Bát Nhã là Trống Trí Huệ. Tiếng trống thôi thúc người đời phải dùng trí tuệ của mình trong việc tu duỡng tâm tánh của mình. Đạo Phật là đạo Trí Huệ, tự mình thắp đuốc mà đi chứ không buông mình dễ dãi trong tập tục truyền thống mê tín dị đoan lỗi thời. Nếu tiếng chuông đại hồng là tiếng đánh thức người đời đang lao mình đeo đuổi cơn
lốc danh lợi vật chất mà dừng lại để chú ý chăm sóc cho phần đời sống tâm linh của mình, thì tiếng trống Bát Nhã thúc bách người hành Phật đạo phải dùng trí tuệ của mình trong việc tu dưỡng thân tâm. Tiếng chuông thì kêu gọi dừng lại, tiếng trống thì khuyến khích xử dụng khả năng trí tuệ của mình trong việc khám phá tâm linh. Chuông và trống hoạt động nhịp nhàng trong việc thực hành Phật đạo. Trong 2 việc đó con trâu dù đã chết vẫn còn đóng góp một phần quan trọng không nhỏ cho sự phát triển tâm linh của người đời.
Trong phần phát triển trí tuệ tâm linh, Thiền đóng vai trò rất quan trọng và trực tiếp Chủ trương của Thiền là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Thiền chú trọng đến Tâm và nhắm vào nó mà tu mà huấn luyện nó. Nhà Thiền thường so sánh tâm con người như con trâu. Con trâu khi chưa được huấn luyện thì rất hoang đàng, không chịu câu thúc vào một kỹ luật nào, lúc nào cũng muốn ăn lúa ăn mạ, dẫm nát ruộng vườn của người ta. Tâm con người cũng vậy, lúc nào cũng lo âu, suy nghĩ, phân tích, biện luận, chưa kể đến lúc nghĩ ác, nghĩ xấu, mưu toan không ngừng, Cũng có lúc tâm hướng thượng, nghĩ thiện nhưng tựu trung là lúc nào cũng lăng xăng lộn xộn, nói chung là vọng động, không lúc nào được yên, nguồn gốc của phiền não. Tâm người thường được ví như con trâu hoang chưa được thuần hóa, chưa được vào nề nếp. Nhà Thiền ví tâm người chưa được huấn luyện như con trâu hoang.
Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất hỏi Thạch Cũng Huệ Tạng sau này trở thành truyền nhân của ngài:
-Ông đang làm gì đây?
-Chăn trâu.
-Chăn như thế nào?
-Mỗi khi nó chạy vào đồng cỏ thì xỏ mũi kéo lui lại.
Thiền Sư Đại An hỏi Tổ Bá Trượng :
- Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?
- Thật là người cỡi trâu tìm trâu.
- Sau khi biết thế thì thế nào?
- Như người cỡi trâu về đến nhà.
- Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?
- Như người chăn trâu cầm roi dòm chừng, không cho nó ăn lúa mạ của người.
Thiền Sư Đại An cũng dạy đệ tử:
"Đại An ba mươi năm ở Qui sơn, ăn cơm Qui sơn, đại tiểu tiện ở Qui sơn, mà chẳng học Thiền Qui sơn. Ngày đêm chỉ xem chừng một con trâu nước đen. Nếu nó đi lạc vào trong cỏ mạ, liền nắm mũi kéo lại. Vừa mới xâm phạm đến ruộng lúq mạ người ta, liền đưa roi ra quất. Thật đáng thương! Trâu bị điều phục lâu ngày trở nên thuần thục, vâng lời người dạy mắn. Giờ đây trâu đen đã hóa thành trâu trắng, sờ sờ rõ ràng trước mặt, trọn ngày đuổi cũng không đi."
Thập Mục Ngưu Đồ vẽ 10 bức tranh diễn tiến các giai đoạn chuyển biến từ con trâu chưa thuần đến lúc tâm được huấn luyện thuần thục, nhu nhuyến của người thực hành Thiền,. Từ giai đoạn đầu lúc mới đi tìm trâu, thấy dấu chân, thấy trâu, được trâu, chăn trâu, cởi trâu về nhà, không còn cả trâu cũng như người chăn, trở về nguồn cội và cuối cùng là thong dong tự tại vào chợ mà không dính mắc bụi trần. Mười bức tranh chăn trâu tuy rất đơn giản nhưng nói lên được đầy đủ ý nghĩa cụ thể của sự chuyển hóa từng giai đoạn của con trâu tâm từ lúc còn phàm phu đến lúc tâm Phật, cứu cánh tối hậu của Thiền.
Con trâu là hình ảnh rất gần gũi trong đạo Phật. Mượn hình ảnh con trâu có hình có tướng làm thí dụ để diễn tả cái tâm vô hình vô tướng không nhận thấy đuợc bằng giác quan là một phương tiện giáo huấn rất hữu hiệu trong nhà Phật. Đầu năm con trâu viết về con trâu và sự liên hệ của nó với Thiền, với đạo Phật cũng là một hình thức khai bút đầu năm mở đầu cho những câu chuyện về Thiền sau này.
(Đã đăng trên Làng, số 528, ngày 6 tháng 2 năm 2009, trang 46)
