Trăm Ngả Rừng Thiền…
Thái Thủy
Thực ra, tôi chỉ là một kẻ tình cờ đi lạc vào chốn rừng thiền. Tôi vốn không hề có ý định cố tình phiêu lưu vào lãnh vực mang ít nhiều tính cách “bí hiểm” này. Tất cả cớ sự bắt đầu là do một người bạn mời tham dự một phiên họp định kỳ hàng tháng của Đạo tràng Tánh Không ở tuốt trên Penelope, 15 dặm về hướng bắc Sacramento, vào khoảng hơn một năm trước.
Trước đây, khi nghe đến Thiền thì tôi rất là “kính nhi viễn chi”. Thiền là của người khác, không phải của tôi. Thiền đối với tôi là một cái gì mang dáng vẻ “huyền bí” và xa cách, chỉ để dành riêng cho một số người có khuynh hướng tu hành hoặc một số người đặc biệt nào đó…
Chứ đâu có biết rằng …
Sau khi tiếp xúc với một số anh chị em nhóm thiền Tánh Không Sacramento, cùng với một lần nghe Thuyết giảng về Thiền và sau khi đọc “ngấu nghiến” một số tài liệu về Thiền - tôi nói đọc “ngấu nghiến” là vì, tôi đã bị bà xã cằn nhằn vì “tội” thức cả đêm để đọc cuốn Thiền luận I của Tỳ kheo Thích Thông Triệt - tôi bắt đầu thấy tò mò về Thiền và quan niệm của tôi về Thiền cũng từ đó thay đổi. Tôi bắt đầu tiếp cận với Thiền trong một tư thế khác: như một khám phá mới. Nhưng mới bắt đầu “bén mảng” đôi chút vào Thiền, tò mò đọc thêm một số tài liệu về Thiền , là đã bắt đầu thấy lúng túng…
Có quá nhiều môn phái, hệ phái về Thiền mà lý thuyết đôi khi lại có vẻ như tương phản nhau.
Trước tiên, là Thiền trong đạo Phật, và Thiền ngoài đạo Phật.
Theo Thiền sư Tôn Mật đời Đường, Thiền được chia làm 5 loại:
- Thiền ngoại đạo
- Thiền phàm phu
- Thiền Nguyên thủy (Tiểu thừa)
- Thiền Đại thừa
- Thiền Như lai tối thượng (Thiền Như lai thanh tịnh, Thiền Tổ sư, Thiền Đốn ngộ, Thiền Đạt ma, mà nay gọi là Thiền Tông) (Theo tài liệu của Thư viện Hoa sen)
Nhưng nếu theo tài liệu Thiền Tánh không, thì Thiền trong đạo Phật được phân loại ra nhiều môn phái, hệ phái như sau:
-Thiền Nguyên thủy, gồm Tứ Niệm Xứ (Thực hành theo Kinh Tứ Niệm Xứ), và Thiền Minh sát hay Tuệ Minh sát (Vipassana).
-Thiền Phát triển, gồm Thiền theo tông Thiên thai, Thiền Tây tạng (Thiền Mật tông), Thiền Tịnh (Thiền và Tịnh độ kềt hợp), Thiền Tứ Niệm Xứ (thực hành theo Luận Câu xá).
-Thiền Tổ Sư, tức Tổ Sư Thiền. Thiền này gồm nhiều loại: Thiền Công Án, Thiền Thoại Đầu,Thiền Tri Vọng v.v…
(Thiền Luận Vấn đáp I. Thông Triệt. Tập 2. Cuốn 3 .2007. Tr.76)
Đó là chưa kể những lối phân loại khác còn phức tạp hơn. Như phân loại theo khuynh hướng với 10 tông phái khác nhau hay phân loại theo trình độ thì chia thành ngũ thừa:1.Nhân thừa, 2.Thiên thừa, 3.Thanh văn thừ, 4. Duyên giác thừa, 5.Bồ tát thừa. Hoặc phân loại theo liễu nghĩa và bất liễu nghĩa. v.v. Và trong cái mênh mông trăm ngã rừng Thiền đó, nổi lên riêng lẻ là Thiền Tánh không.
Thiền Tánh không
Trước đây tôi đã có cơ duyên được găp Thầy Thông Triệt. Qua đôi lần nghe thầy thuyết giảng, cái cung cách và phong thái trong sáng… Có cái gì như an định và tự tại nơi Thầy đã gây được sự kính trọng và tin tưởng trong tôi. Và sau khi tham khảo một số tài liệu sách vở của Thiền phái Tánh không, niềm tin cậy về Thiền Tánh Không trong tôi lại càng được xác định thêm.
Lập trường mới
Việc thực hành Thiền theo mỗi hệ phái dĩ nhiên là có những điểm tương đồng cũng như những điều dị biệt. Nhưng, vượt lên trên tất cả những khác biệt đó, “Truờng phái” Thiền Tánh Không có một điểm đặc biệt khác với tất cả hệ phái Thiền khác từ trước đến nay: Đó là ứng dụng các thành tựu khoa học mới nhất vào việc thực hành Thiền.
Theo Thiền Tánh không, “Thiền là một “Khoa học tâm linh thực nghiệm”.
Nó cũng không còn là vấn đề bí hiểm, khó lãnh hội như trong những thế kỷ về trước. Nó là một khoa học như những khoa học khác trên thế gian, nhưng khác với các môn khoa học khác trên thế gian là nó thuộc về tâm linh. Nó khai triển năng lực Biết để phục vụ nhân sinh (Human life) trong những hoàn cảnh và môi trường sống khác nhau., chứ không khai triển năng lực Ý thức, Ý căn hay Trí năng.
Có đứng trên lập trường này chúng ta mới cụ thể hoá truyền thống nòng cốt của thiền học Đông phương là mang lại hài hòa cho nhân sinh trong bối cảnh sống trong xã hội hiện nay của nền văn minh của thế kỷ 21.” (“Hồi đáp sinh học trong Thiền” tr.1)
Không khẳng định hoặc áp đặt các phương pháp hay kỹ thuật Thiền đã có từ trước một cách chủ quan mà trái lại chỉ cố gắng tim hiểu, giải thích và chứng minh bằng cách ứng dụng phương pháp khoa học vào việc thực hành Thiền. Điều này giúp lý giải một số hiện tượng phát sinh trên thân tâm của thiền sinh khi thực hành Thiền một cách khoa học hơn.Trong một mức độ khái quát nào đó, và tới một giới hạn chính xác nào đó, những giải thích này sẽ cũng rất hữu ích trong vấn đề tìm hiểu và thực hành về Thiền. (Muốn đi vào chi tiết của vấn đề này, xin đọc bài “Hồi đáp sinh học trong Thiền” trong bộ sách Tìm hiểu và ứng dụng Thiền Phật Giáo của Thầy Thích Thông Triệt đã xuất bản).
Những cuộc thực nghiệm
Bắt đầu từ năm 1997, tại Nam Cali, thiền Tánh Không đã đưa Phương pháp dùng Điện não đồ (EEG) vào Thiền để đo mức độ “Định” của thiền sinh. Đây là cách dùng máy đo Điện Não đồ để biết mức độ tâm giao động, hay tâm yên lặng, tâm thanh thản, tâm định biểu lộ như thế nào dưới các dạng sóng não Beta, Alpha,Theta và Delta. Tháng Sáu năm 2007, đã tiến thêm một bước nữa là chụp hình não bộ bằng máy functional-Magnetic Resonance Imaging (f-MRI) của hành giả lúc chưa thiền và lúc đã vào được “Định”. Thầy Thông Triệt, tăng đoàn và 1 số thiền sinh của đạo tràng ở Đức đã tham dự vào cuộc thực nghiệm này. Chương trình này do Phân khoa Quang tuyến Thần kinh thuộc Đại học Tuebingen, Đức quốc, thực hiện. Căn cứ vào kết quả của kỹ thuật khảo sát chức năng của não bộ với máy cộng hưởng từ fMRI nói trên, Thiền Tánh Không đã xác định được vị trí của vùng tánh Nhận Thức Biết ở thùy chẩm phía sau bán cầu não trái và vùng tánh Xúc chạm ở thùy đỉnh.
Đây là đầu tiên trong lịch sữ Thiền học và Não bộ học, 2 vùng não bộ liên hệ trực tiếp đến việc thực hành Thiền đã được khám phá. (Thiền luận vấn đáp 1, Phụ lục, trang 60-61).
Kết hợp với những khám phá trước đây của khoa Não bộ học (về các vùng tánh Thấy, tánh Nghe, vùng Broca, vùng Ý thức, Ý căn và vùng Nói thầm), hai vùng tánh Nhận thức Biết và tánh Xúc chạm mới được phát hiện đã làm sáng tỏ cơ chế và tác dụng của Thiền trên thân và tâm của con người. Nói một cách khác, những giải thích về tương quan của não bộ và Thiền Định của Thiền Tánh Không trước đây là phù hợp với kết quả chụp hình não bộ nêu trên. Các kiến thức khoa học trên giúp các thiền sinh nhận ra vai trò quan trọng về sự liên quan mật thiết giữa tâm và não bộ, giữa tâm và hệ thần kinh…Và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ sức khỏe của con người.
Tóm lại, cho đến nay, việc ứng dụng các phương pháp khoa học vào việc thực hiện Thiền của Thiền Tánh Không đã tỏ ra hợp lý và rất hữu ích..
Nhưng, liệu như thế có bớt đi cái nét quyến rũ “huyền bí” cố hữu của Thiền hay không? Đó là chưa kể tới một số những môn phái Thiền khác lại cho rằng không thể giải thích được. “Chữ nghĩa làm sao ghi cái tâm lặng lẽ trong sáng đó? Dù máy móc điện tử tối tân cũng không ghi được chỗ này.”
Biết làm sao được…
Thực hành Thiền
Theo quan niệm của Thiền Tánh Không thì : Ngộ- Thể nhập- Chứng nghiệm, là một sự liên kết chặt chẽ trong Thiền học.
“Nếu đã ngộ được Pháp, tức chân lý, mà không thực hành, thì sẽ không bao giờ thể nhập được điều mà ta đã ngộ. Không thể nhập, ta sẽ không bao giờ chứng nghiệm thực sự về Pháp Thiền đó trên thân, tâm, nhận thức, và trí tuệ tâm linh của ta. Khi đã không chứng nghiệm được, việc thực hành thiền của ta chẳng những không mang lại lợi ích thiết thực gì cho ta mà còn gây tai hại …”
Sự tình vốn phức tạp là thế. Cho nên…
Quả tình tôi không muốn phiêu lưu đơn độc một mình trong lãnh vực thực hành Thiền. Và chần chờ…Nếu được hướng dẫn trực tiếp thực hành Thiền bởi những người có kinh nghiệm và có thẩm quyền về lãnh vực thực hành Thiền thì vẫn hơn. Bởi vì nếu tự dò dẫm một mình thực hành Thiền mà chỉ căn cứ vào tài liệu, kinh sách cùng với sự chỉ dẫn kinh nghiệm của vài người quen, có thể sẽ chẳng đi đến đâu, trái lại đôi khi còn có thể “lợi bất cập hại” hoặc “tẩu hỏa nhập ma” không chừng... Và một khi đã thực hành sai thì việc điều chỉnh còn “phiền” hơn là lúc ban đầu chưa thực hành nữa. Cho nên tôi đã kiên nhẫn mà nôn nao chờ đợi hơn một năm để được ghi danh tham dự Khóa Thiền Căn bản Tánh Không 55 , tổ chức vào tháng 3 năm 2009, tại Sacramento
Khóa Thiền Căn bản Tánh Không 55
Khóa học đã gặp trục trặc lúc ban đầu, nhưng cuối cùng nhờ nhã ý của Sư cô Triệt Như và Thầy Thiền chủ Thiền viện Tánh không, nên cũng đã khai giảng đúng như dự định ban đầu. Và tôi đã tham dự khóa học này, với một mục tiêu rõ ràng và giới hạn: “tập thực hành kỹ thuật thư giãn để có thể đi vào được “Định” tức là …”đạt được trạng thái an bình tâm linh” trong một thời thiền nào đó. Chỉ đơn giản là muốn giới hạn sự học hỏi trong vấn đề thể nghiệm kỹ thuật thư giãn của Thiền để có thể đạt đến Định mà không dám động chạm đến khía cạnh Tôn giáo của Thiền. Không có tham vọng về những vấn đề cao siêu như Giác ngộ hay Giải thoát , và cũng không hề mưu tìm điều chỉnh những bệnh tâm thân nào khác.
Và với một tâm ý như thế, tôi đã đến Lớp Thiền Căn bản với tất cả khiêm tốn, một tấm lòng rộng mở, không thành kiến, không định kiến hay tiên kiến, và sẵn sàng lắng nghe. Ngay trong ngày đầu, trong bài khai thông , Sư cô Triệt Như đã giới hạn mục tiêu của lớp học: Thiền, trong mức độ ở Lớp Thiền Căn bản, chỉ là nhận ra Tánh giác của mình, mà nền tảng là Niệm “Biết” . Và khi thực hành niệm Biết là thư giãn tâm để Tâm được tĩnh lặng, và an lạc. Và hệ quả là có thể điều chỉnh một vài chứng bệnh tâm thể. Mục tiêu nghe ra khá đơn giản. Nhưng thực ra phải tốn nhiều dụng công tự lực thực hành cộng với nhiều thời gian mới mong đạt được. Nhưng trước hết là phải qua 7 ngày “gian khổ” nhưng cũng đầy hứng thú, với một học trình như sau:
I. Nội dung học trình:
Gồm 2 phần: lý thuyết và thực hành.
1. Phần lý thuyết:
-Kiến thức về Phật học (Tiến trình tu và thành Đạo của Đức Phật)
-Kiến thức về Thiền học (Thiền Quán-Chỉ-Định-Huệ)
-Kiến thức về khoa học não bộ. (Để có thể giải thích sự tương tác giữa sự thực hành Thiền và não bộ, hệ thần kinh, rồi ảnh hưởng đến tâm thân ra sao…)
-Kiến thức về Kỹ thuật thực hành. Phải nắm vững kỹ thuật thực hành để có thể thực hành Thiền đúng. Và khi nắm vững kỹ thuật, ta sẽ rút ngắn được thời gian dụng công, vì ta sẽ thực hành thẳng vào cơ chế Tánh giác, chứ không đi lòng vòng.
2. Phần thực hành:
-Kỹ thuật “Thở”
-Kỹ thuật“Không nói”
-“Nghe tiếng chuông”
-“Thư giãn luỡi”v.v
Đây là những kỹ thuật thực hành hay là Chiêu thức để giúp ta thư giãn Tâm, để Tâm tĩnh lặng, và nhận ra được Tánh giác. Cốt lõi của thực hành là thư giãn bằng niệm Biết mà thôi, sẽ tác đông vào não bộ khu vực Tánh giác (Biết không lời), và tâm sẽ tĩnh lặng. Khi tâm tĩnh lặng, sẽ tác động dây chuyền đến các tuyến nội tiết để tiết ra các chất sinh- hoá học tốt để điều chỉnh tâm, điều chỉnh thân. Sau đó, nếu tánh giác bị kích thích , tiếp tục bị kích thích hoài sẽ phát huy trí tuệ tâm linh…Trong thực tế lớp học, lý thuyết và thực hành đan xen nhau. Sau mỗi phần lý thuyết là phần Thực hành ứng dụng của lý thuyết vừa được trình bày.
II. Phương thức thuyết giảng:
1.Tìm cách giải thích tận căn nguyên của sự kiện .
Đơn cử một trường hợp: “Chiêu thức Quán Ánh sáng.” Để trị bệnh mất ngủ kimh niên hay nhức đầu một bên (Thiên đầu thống) thì ngồi nhìn ánh sáng nắng từ 10 phút đến 20 phút trong khoảng 6 buổi tâp, ta sẽ có kinh nghiệm điều chỉnh các chứng bệnh trên.”
Thiền Tánh Không không dừng lại ở chỗ xác định đó mà căn cứ vào những phát minh mới nhất của khoa học về não bộ, để giải thích tiếp là làm sao và do đâu mà hết bệnh :
“Khi ta chỉ nhìn và thấy biết ánh sáng nắng. Đây là cách nhìn bằng tánh thấy. Bằng cách này để kích thích tuyến Tùng (nằm phía sau Đồi Thị) tiết ra serotonin, và melatonin (được tiết ra khi nhìn bóng đêm), đồng thời cũng quân bình được chất dopamine tại Thùy chẩm, giúp điều chỉnh bệnh ảo giác về thấy và nghe. Serotonin giúp hăng say làm việc, điều chỉnh bệnh trầm cảm, và có khả năng điều chỉnh bệnh nhức đầu một bên (migraine). Melatonin có khả năng điều hòa ngủ thức, trị bệnh mất ngủ kinh niên, tăng cường hệ miễn nhiễm, ngăn ngừa buớu ngực, buớu não…” (“Hồi đáp Sinh học trong Thiền” tr. 12 )
Tôi liên tưởng đến lời khuyên của một vị thầy dạy Thái cực quyền ở Việt nam khi ông khuyên các học trò của ông là mắt nên nhìn thật xa vào khoảng không trước mắt mà không chú ý đến một đối tượng nào hết, khi tập một số tư thế Thái cực quyền, thì rất là tốt. Nhưng ông không nói là tốt cho cái gì, tại sao và do đâu mà tốt. Trong suốt nhiều năm, tôi cứ thắc mắc về lời khuyên này. Bây giờ, nghe giải thích của Thiền phái Tánh không, mới thấy nhẹ nhõm trong lòng.
2. Chỉ là giới thiệu và truyền đạt kinh nghiệm thực hành Thiền và không chỉ giới hạn trong Phật giáo.
Như thầy Thông Triệt có lần đã nói “Giới thiệu phương thuốc Thiền, tôi chỉ giới thiệu, còn muốn hay không muốn là tùy mỗi người.” Sư cô Triệt Như cũng có nhấn mạnh là Khoá học 7 ngày của lớp Thiền Căn bản chỉ là truyền đạt chút kinh nghiệm về thực hành Thiền mà thôi. Thực hành Thiền chính là “tinh tấn” tự thân thực hành chứ không phải là cầu nguyện. Cho nên muốn thực hành Thiền có kết quả thì phải tiếp tục …“miên mật” thực hành.
Ngoài ra Sư cô Triệt Như còn có nói: Lớp Thiền Căn bản không phải chỉ hạn cuộc trong Phật giáo, mà trái lại theo bất cứ tôn giáo nào khác cũng có thể học thực hành Thiền được, đặc biệt là các “chiêu thức” thực hành ở lớp Thiền Căn bản Tánh không. Một vài Thiền phái khác cũng có đồng quan điểm này với Thiền Tánh Không.
III. Giảng viên:
Có lẽ không cần lặp lại những lời ngợi khen của quá nhiều người về phong cách thuyết giảng của sư cô Triệt Như. Chẳng hạn như kinh nghiệm giảng dạy, lòng tận tụy, bài giảng khoa học, có hệ thống, và hợp lý với những sơ đồ dễ hiểu dễ nhớ v.v..Nhưng thật ra, trên tất cả những cái đó, sự thành công của lớp Thiền Căn bản của Sư cô Triệt Như là sự tràn ngập sức sống trong các bài thuyết giảng của cô. Giảng viên thật sự “sống” với bài giảng của mình, am hiểu sâu sắc và thật sự tin tưởng vào những điều mình thuyết giảng, nên lớp học bị cuốn hút và cũng tràn đầy sức sống. Đó là nét đặc biệt độc đáo của Sư cô Triệt Như. Ngoài ra, còn phải nói đến sự thân mật, niềm tin cậy và lòng tương kính giữa người truyền đạt kiến thức và người tiếp nhận kiến thức bàng bạc trong suốt khoá học.
Phần kết
Không hiểu có lạc quan quá không khi nói rằng, chỉ có qua 7 ngày học tập ngắn ngủi , mà lớp học đã có chuyển hóa…Tất cả các khuôn măt đều như có vẻ sáng lên trong một niềm vui an định, nhẹ nhàng và thanh thoát trong buổi bế giảng. Giọng ngâm thơ hào sảng của một thiền khách của Đạo tràng. Tiếng đàn tranh tài tử mà lại đặc biêt điêu luyện đến bất ngờ của một thiền sinh. Một nụ cười đôn hậu, bình dị mà thấm đẫm bao dung. Và những cái khác nữa...
Tất cả hòa quyện lại trong một bầu không khí thân ái, nhẹ nhàng, đầy cảm thông và độ lượng… Quả thật lòng rất hân hoan trong một niềm vui thanh thản mà trước đây ít khi có được. Không biết những thiền sinh khác có cảm nghĩ như thế nào sau khi tham dự khóa Thiền Căn bản này, còn đối với riêng tôi, thì những gì đạt được đã vượt quá những gì đã kỳ vọng lúc ban đầu. Và cũng gợi lên trong tôi nhiều suy nghĩ khác. Với số kiến thức và kỹ thuật căn bản đựợc trang bi, cùng với những buổi thực hành đã thực tập, tuy không nhiều lắm nhưng mà vững chắc, chắc cũng tạm đủ để cho các thiền sinh làm nền tảng cho điểm khởi hành của cuộc Thiền hành dài trước mặt mà không sợ bị lạc lối.
Còn đối với những ai muốn tìm hiểu về Thiền hay muốn thực hành Thiền… Thì có lẽ đây là dịp tốt để có thể trưc tiếp thể nghiệm về Thiền, qua lớp Thiền căn bản Tánh không, sắp được tổ chức trong tháng 8/2009 tại Sacramento. Đây cũng là một “cơ duyên” đặc biệt.
Sau hết, không biết có bị chê là khách sáo quá hay không, nếu tôi muốn lặp lại, là “Xin cảm ơn Thầy Thông Triệt và Sư cô Triệt Như”, một lần nữa.
Thái Thủy
thaithuy77@gmail.com
