Tại Sao Thiền ?
Chí Hải
Thời đại chúng ta cách thời Phật tại thế hơn 2500 năm. Phật giáo phát triển khắp nơi, đến nơi nào thì hoà nhập với địa phương đó, không va chạm với truyền thống bản địa, không độc tôn, thường thay mình đổi dạng một ít đi cho hòa đồng với hoàn cảnh điạ phương để đồng hành phát triển. Trong sư phát triển theo ngoai xứ, theo thời gian Phật giáo cũng tự phát huy qua sự lý giải, sư thực chứng của các vị Tổ sư. Mỗi vị chứng đắc một cách riêng rồi truyền dạy lại kinh nghiệm của mình một cách “của mình”. Kết quả là làm giàu thêm, làm mới thêm con đường Phật dạy và tích lũy thêm thành một rừng kinh tạng, luận tạng để lại cho hậu thế. Người hậu thế dễ lạc lối trong rừng kinh luận đó, không biết thực hành pháp môn nào để định hướng đường tu của mình như thế nào.
Muốn thực hành Phật đạo, muốn theo con đường của Phật thì không gì hơn thực hành đúng với con đường của Phật thì không sơ sai lạc. Con đường của Phật là con đường gì? Là con đường thực hành Thiền. Phật đã trãi 6 năm dài trong việc tìm thầy, tìm pháp, thực hành, thể nghiệm, chứng đắc, lại thí nghiệm thậm chí khổ luyện cực đoan nhưng rốt cuộc không thấy kết quả đáp ứng được mục tiêu tối hậu của mình. Cuối cùng Phật đã tìm ra được con đường Thiền Định, nhờ đó ngài đã thành công và đã chứng ngộ. Ngài đã trở thành bậc Chánh đẳng Chánh giác qua con đường độc đạo này.
Mà đối tượng vủa Thiền là Tâm. Cả một nền triết học đồ sộ của Phật Giáo xây dựng chung quanh cái Tâm của con người. A Tì Đạt Ma Luận nói về cái Tâm, Duy Thức Tông thì phân tích cái Tâm đến chỗ tận cùng, Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng bàn về cái Tâm. Đạo Phật là đạo của Tâm. Nhất thiết duy Tâm tạo. Từ Tâm xấu xa, vị kỷ đến Tâm hướng thiện, vị tha. Trong tam tạng kinh điển, chỗ nào cũng nói đến Tâm, nói đến cách điều tâm một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Con người là sự hết hợp của kỳ diệu Thân và Tâm. Thân là phần thân thể , “thân thể người ta chia ra làm 3 phần: đầu, mình và tay chân” như một bài hoc Quốc văn giáo khoa thư dãn dị thân thương ngày nào của những lớp đồng ấu vào những thập niên 30-40 của thế kỷ trước. Muốn cho thân thể cuờng tráng , khoẻ mạnh thì ta phải tập luyện thể dục. Muốn cho Tâm tốt, làm người hiền lương, biết đạo lý, có lòng nhân đạo, vị tha…thì phải cũng phải huấn luyện Tâm theo chiều hướng đó. Muốn có kiến thức, khôn ngoan, thì phải đi học để phát triển về mặt ý thức, trí năng, tâm trí. Tâm cũng là trung tâm của buồn, phiền, tham giân, oán, hờn, xấu ác….. Tâm con người rất đa dạng và rất năng động, là bãi chiến trường của thiện và ác, xấu và tốt, chiến tranh và hòa bình… Giết người cũng no mà cứu người cũng nó. Nhà Phật ví Tâm con người như con khỉ con vượn, con trâu lúc nào cũng vọng động, lúc nào cũng phá luật, ít khi được yên lặng, thuần hóa. Tâm người thường cũng được ví như hồ nước đục không thể in bóng mặt trời mặt trăng. Thiền là phương pháp huấn luyện con trâu tâm cho nó thuần thục, cho nó không còn đi “ăn phá lúa mạ của người ta”. Thiền chuyển đổi hồ nước đục thành hồ nước trong để “mặt trời mặt trăng chìm đáy nước”. Thiền cung cấp những kỹ năng để huấn luyện cái Tâm đó. Những kỹ năng đó có thể gọi là Tâm dục song song Thể dục là kỹ thuât huấn luyện Thân thể.
Thiền là con đường Phật tư thân đã đi qua để chứng ngộ và thành Phật. Chỉ qua con đường này mà Phật đã viên thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và trở thành một vị Phật lịch sữ của hành tinh này. Không có Thiền thì không có Phật Giáo. Thiền là pháp tối hậu của người hành Phật Đạo. Cho nên muốn theo con đường của Phật thì hành Thiền là con đường hợp lý nhất mặc dầu trong kinh điển có cũng đã có nói đến rất nhiều pháp môn thực hành khác. Mỗi pháp có khác nhau về phương tiện thực hành nhưng nhất quán môt hướng chung là giải thoát sinh tử luân hồi. Thiền không đi ngược lại mục đích của các pháp môn khác của Phật giáo. Người thực hành các pháp môn khác thực hành Thiền thì cũng giống như “cọp mọc thêm cánh”, tăng thêm phần tự lực của mình. Người học trò cần thầy hướng dẫn, cần sách vở bổ sung mở rộng kiến thức và phải thực hành những điều học được trong sách giáo khoa qua những lần thí nghiệm tới thí nghiệm lui mới đưa đến kiến thức trọn vẹn về một vấn đề gì. Thiền giống như công việc của phòng thí nghiệm đối với người học trò. Thời còn những năm trung học, chúng ta học thật nhiều về vạn vật, vật lý, hoá học mà thiếu hẳn phần thực nghiệm. Chúng ta biết 2 nguyên tử hydro hợp với 1 nguyên tử oxy thì làm thành 1 phân tử nước nhưng chúng ta không biết làm sao để làm cho nó ra nước. Chúng ta thiếu phần thực hành. Chúng ta ăn xì dầu, tàu vị iểu, maggi hằng ngày mà chúng ta không biết nó là sản phẫm hóa học làm từ chlorhydric acid (HCl, thứ acid chứa trong bình accu trong xe hơi của mình), bả đâu nành khô, và sodium hydroxide,(NaOH, là chất dùng trong sản phẫm thông ống nước trong nhà), cọng thêm các chất tăng vị, màu mè. Quá trình chế biến này chỉ cần vài ngày là vô chai bán ra thị trường đươc liền. Dĩ nhiên là có sự phân chất , kiểm nghiệm về độ kiềm độ acit nhưng không thề không có các phó sản độc hại mới sinh ra trong quá trình tác dụng hóa học này mà mới đây loan truyền nhiều trên Internet . Nếu chúng ta biết cách chế biến xì dầu (xì dầu chứ không phải nước tuơng chế biến do tiến trình lên men sinh học) thì ta không dám xịt xịt bóp bóp nó vô bánh mì ăn sáng ăn trưa hay dĩa xà lách.ăn chiều. Thiếu phần thực hành đưa đến cái biết phiến diện, một chiều và không cho ta thụ hưởng được cái kết quả tốt nhất .
Điểm kỳ đặc của Thiền là mặc dù được bắt nguồn từ Phât Giáo nhưng nó vượt lên trên Phật Giáo. Thiền không phải là độc quyền của Phât Giáo. Thiền vượt qua tín lý tôn giáo. Thiền thuộc về tâm linh. Phật tử hay không Phật tử, tin Phật hay không tin Phật, nếu thực hành đúng kỹ thuật thì cũng đều có kết quả như nhau. Thiền bao gồm các kỹ thuật Quán, Chỉ, Định, Huệ là gốc rễ của Trí Huệ và Giải thoát. Trước khi đi đến chỗ giải thoát rốt ráo, người hành Thiền cũng gặt hái được những hoa trái dọc dường như cải thiện thân tâm. Các loại bệnh tâm thể ít nhiều được cải thiện. Tâm tính chuyển đổi do kết quả của tác dụng sinh học trên thân và tâm. Ai cũng có thể thực hành Thiền, không phân biệt Phật tử hay không Phật tủ. Thực hành đúng phương pháp thì đều gặt hái cùng kết quả như nhau. Người có trí thức cao vời , người có căn trí bình thường bất luận ai ai cũng có thể huấn luyện Tâm mình cho nó thuần thục, an định. Ai cũng có có thể làm chủ tâm mình, làm chủ sự suy nghĩ của mình, chuyển hoá thân tâm mình theo chiều hướng tốt đẹp. Vấn đề là kỹ thuật. Dùng đúng phương pháp thì ai cũng thành công trong việc chăn con trâu tâm của mình không cho nó chạy hoang phá làng phá xóm.
Trong số bạn bè tôi, có người không nhắm đến mục đích giải thoát xa xôi quá, không cần kiến tánh thành Phật quá sức tưởng tượng nhưng họ cũng thực hành Thiền. Họ cũng hít vô thở ra, tập đình chỉ tạp niệm, hạn chế loạn tưởng, dùng đúng kỹ thuật hành Thiền thì cũng thấy đuợc sư thay đổi về thân tâm, ít bệnh hoạn lặt vặt, giảm thiểu cảm cúm, bớt căng thẳng tinh thần, thoải mái dễ dãi với mình dễ hoà hợp với người chung quanh, chuyển đổi cách nhìn về mình về người về sự sống theo chiều hướng tốt đẹp hơn trước, không than phiền, cằn nhằn, trách người trách mình, trực diện với đời sống một cách dễ dàng hơn. Đó là những lợi ích kiểu “mì lăn liền” của Thiền đem lại cho người thực hành. Ta không cần khổ luyện để trở thành tuyển thủ Olympic nhưng chỉ cần áp dụng những kỹ thuật tập luyện của họ thì ta cũng sống khoẻ, sống mạnh một đời như thường và cũng có thể làm bạn bè lát mắt vì cái bụng “six-pack” của mình.
Lại hỏi tại sao Thiền? Bởi vì Thiền là con đường chim bay, con đường ngắn nhất để đến mục tiêu. Mục tiêu rốt cùng của người thực hành Phật đạo là thành Phật. Ai cũng có khả năng thành Phật, ai cũng có hạt giống Phật trong tâm mình. Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh. Biết cách triển khai nó, làm cho nó nẩy chồi đâm tược, nuôi dưỡng nó, phát huy nó thì đến lúc nào đó ta sẽ thành Phật. Tổ Huệ Năng đã dám nói với Ngũ Tổ trong buổi sơ kiến “con đến đây chỉ có một lòng để làm Phật”. Không biết bao lâu để đến chỗ rốt ráo đó. Tu tà tà, tu tì tì, tu từ từ, tu tằng tằng, như tôi thì không biết là đời kiếp nào mới đến đó. Nhưng bao lâu thì bao lâu, hướng đời đã quyết thì cứ đó mà đi. Đi con đường Phật đã đi. Thời Phật còn tại thế, đường tu rất dễ, rất trực tiếp, chỉ nghe lời Phật dạy thôi rồi theo đó thực hành Thiền định thì cũng thụ đắc đuợc quả vị Thanh Văn rồi. Dễ quá. Văn là nghe, chỉ cần nghe thôi cọng với thực hành là dư sức chứng ngộ đươc quả vị Duyên Giác, A La Hán.
Nhưng là Thiền nào? Lại cũng phải đối diện với một rừng Thiền. Chọn cái nào bây giờ?
(Đã đăng tuần báo Làng, Sacramento, số 529, ngày 13 tháng 2 năm 2009)
